Ung thư không là án tử nếu không bỏ lỡ "giai đoạn vàng"
Thứ Sáu, 26/06/2026 08:42 GMT+7
Hơn 50% bệnh nhân ung thư đến viện khi bệnh đã ở giai đoạn tiến triển, thậm chí có những loại ung thư tỉ lệ này lên đến hơn 70%. Thực trạng này không chỉ làm giảm cơ hội chữa khỏi mà còn khiến quá trình điều trị trở thành một cuộc chiến lâu dài, tốn kém.
Theo số liệu từ Tổ chức Ung thư Toàn cầu (GLOBOCAN), Việt Nam đối mặt với áp lực lớn khi ghi nhận khoảng hơn 180.000 ca mắc mới và hơn 120.000 ca tử vong do ung thư mỗi năm. Điểm đáng lưu ý là trong khi tỉ lệ mắc mới của nước ta xếp thứ 91 trên 185 quốc gia, thì tỉ lệ tử vong lại đứng ở vị trí thứ 50 và có xu hướng tăng đều qua các năm. Các chuyên gia y tế hàng đầu nhận định rằng, chính tâm lý chủ quan và thói quen phát hiện muộn là nguyên nhân cốt lõi dẫn đến nghịch lý đau lòng này.
Tại Cà Mau, theo chia sẻ của bác sĩ Châu Quốc Đạt, Trưởng Khoa Ung bướu, Bệnh viện Đa khoa Cà Mau thì ghi nhận thực tế từ các ca đến khám, có đến trên 50% bệnh nhân chỉ tới bệnh viện khi bệnh đã ở giai đoạn muộn, tức là từ giai đoạn 3 đến giai đoạn 4. Còn theo báo cáo từ các bệnh viện chuyên khoa lớn như Bệnh viện K hay Bệnh viện Ung bướu TP.HCM còn chỉ ra rằng, đối với một số loại ung thư diễn tiến âm thầm như ung thư gan, ung thư phổi hay ung thư đường tiêu hóa, tỉ lệ phát hiện muộn trong cộng đồng thực tế dao động từ 50% đến 80%.
Theo bác sĩ Đạt, Ung thư ở giai đoạn 1 và 2, bệnh còn khu trú tại chỗ, tổn thương nhỏ và chỉ mới chớm lan rộng ở phạm vi rất hẹp. Bước sang giai đoạn 3, hay còn gọi là giai đoạn tại vùng, khối u bắt đầu xâm lấn sang các tạng lân cận hoặc di căn đến hệ thống hạch vùng. Tùy thuộc vào từng loại ung thư cụ thể, giai đoạn này sẽ được phân chia phức tạp và chính xác hơn thành các phân nhóm 3A, 3B, hoặc 3C. Cuối cùng, giai đoạn 4 là lúc ung thư đã di căn xa, tế bào ác tính theo máu hoặc hệ bạch huyết bong tróc, di chuyển để phá hủy các cơ quan khác trên toàn cơ thể. Khi bệnh đã chuyển sang giai đoạn toàn thân này, việc phẫu thuật cắt bỏ hay xạ trị tại chỗ không còn mang lại hiệu quả cốt lõi, các bác sĩ buộc phải can thiệp bằng các liệu pháp toàn thân như hóa trị để kiểm soát sự lan rộng.
Chính vì vậy, giai đoạn 1 và 2 được coi là "thời điểm vàng" để tối ưu hóa điều trị. Bác sĩ Đạt nhấn mạnh rằng, khi các tế bào ác tính còn nằm khu trú tại chỗ, phác đồ can thiệp thường đơn giản nhất, ít xâm lấn và mang lại hiệu quả cao nhất cho bệnh nhân. Ngược lại, một khi bệnh đã chuyển sang giai đoạn tại vùng, bài toán điều trị trở nên vô cùng phức tạp và nặng nề. Lúc này, các bác sĩ rất khó để nới rộng diện cắt nhằm loại bỏ hoàn toàn khối u vì nguy cơ phạm vào các tổ chức lành hay mạch máu lớn xung quanh. Người bệnh không chỉ trải qua một cuộc phẫu thuật đơn thuần mà bắt buộc phải thực hiện thêm các biện pháp bổ túc phối hợp đa mô thức, đặc biệt là xạ trị để bao vây và tiêu diệt triệt để mầm bệnh còn sót lại.
Theo đại diện Bộ Y tế, mặc dù năng lực chẩn đoán và điều trị ung thư tại Việt Nam hiện nay đã tiệm cận với những tiến bộ thế giới thông qua các thiết bị xạ trị thế hệ mới, thuốc điều trị trúng đích hay liệu pháp miễn dịch, nhưng công nghệ hiện đại đến đâu cũng không thể thay thế được yếu tố thời gian. Sự khác biệt lớn nhất giữa nền y tế nước ta và các nước phát triển nằm ở nhận thức tầm soát của người dân. Tại Việt Nam, đa số cộng đồng vẫn giữ thói quen "có triệu chứng, đau đớn mới đi khám" hoặc mang tâm lý e ngại, sợ hãi khi đối diện với tầm soát chủ động.
Con số hơn 50% bệnh nhân phát hiện muộn chính là một lời cảnh tỉnh sâu sắc gửi đến mỗi cá nhân. Ung thư hoàn toàn không còn là một "án tử" nếu chúng ta chủ động chặn trước một bước. Thay vì chờ đợi cơ thể lên tiếng bằng các dấu hiệu kiệt quệ – vốn thường chỉ xuất hiện khi bệnh đã ở giai đoạn tiến triển xa – việc chủ động tầm soát sức khỏe định kỳ chính là chiếc chìa khóa duy nhất để nắm bắt cơ hội cứu sống chính mình ngay từ giai đoạn khởi phát.
Minh Anh